Như thế nào là cho vay nặng lãi, mức xử phạt ra sao? (Tổng hợp ý kiến) | Bank™Tư Nhân

Như thế nào là cho vay nặng lãi, mức xử phạt ra sao? (Tổng hợp ý kiến)

Giải quyết khó khăn tài chính mùa Covid!

Như thế nào là cho vay nặng lãi, mức xử phạt ra sao? (Tổng hợp ý kiến)

ngân hàng tư nhân

Như thế nào là cho vay nặng lãi, mức xử phạt ra sao? (Tổng hợp)

Như thế nào là cho vay nặng lãi, mức xử phạt ra sao? ngân hàng tư nhân

1.

Vay tiền hiện nay là một giao dịch phổ biến, tuy nhiên nhiều người đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết cũng như sự cần thiết của bên vay mà đưa ra mức lãi suất trên trơi. Dưới đây là nội dung mà người vay lẫn người cho vay cần lưu ý để tránh sự can thiệp của pháp luật.

Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về lãi suất vay như sau:

”1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất 20%/năm.

Như vậy, trường hợp lãi suất do các bên thỏa thuận không được vượt quá: 20%/ năm của khoản tiền vay

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 20% : 12 tháng = 1,666%/tháng

Điều 201 BLHS sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội cho vay nặng lãi:

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên155, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tương đương lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định trên tháng là: 5 lần x 1,666%  = 8,33%

Như vậy, chỉ khi mức lãi suất cao hơn lãi suất cao nhất pháp luật quy định 5 lần trở lên thì mới cầu thành tội cho vay nặng lãi theo pháp luật hình sự

Trường hợp bên vay không trả được nợ và phía bên cho vay khởi kiện ra tòa án thì pháp luật chỉ bảo vệ quyền lợi của bên cho vay trong phạm vi lãi suất mà pháp luật cho phép. Phần vượt quá lãi suất sẽ không được pháp luật bảo vệ.

2.

Để cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ” không chỉ quan tâm vấn đề lãi suất mà còn phải thu lợi bất chính được từ 30.000.000đ trở lên nữa.

Tiện đây cho mình hỏi nếu cá nhân cho cá nhân vay (vay theo kiểu tín chấp, tin tưởng nhau) nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ”  (vượt lãi suất nhưng thu lợi bất chính chưa đủ). Vậy chúng ta có thể xử lý hành chính được không và dựa vào văn bản nào để xử lý.

p/s: Mình đã nghiên cứu Nghị định 167 xử phạt trong lĩnh vực an ninh…… nhưng Điều 11 lại quy định nhằm xử lý hành chính về lĩnh vực quản lý ngành nghề kinh doanh. Trường hợp này là cá nhân với cá nhân.

 

3.

Cảm ơn bài viết của bạn về cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, mọi người lưu ý là đây là trường hợp cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự thông thường (thường giữa những cá nhân với nhau) thì theo quy định Bộ luật dân sự không cho phép thoả thuận với mức lãi suất 20%/năm nhé. Còn đối với cho vay tín dụng (cá nhân, tổ chức với các tổ chức tín dụng) thì lại khác: có thể vay với mức lãi suất trên 20%/năm mà không vi phạm pháp luật, miễn sao mức lãi suất đó được sự cho phép của Thống đốc Ngân hàng nhà nước tỏng từng thời kỳ. Các bạn có thể tham khảo Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN 

Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này.

Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn.
Trên đây là điều mà mình muốn mọi người lưu ý để khi vay tiền tại các tổ chức tín dụng, ví dụ như FE credit thì nên lưu ý, họ có quyền cho bạn vay với mức lãi suất rất cao nên khi đọc các điều khoản của hợp đồng vay tiền nên lưu ý, kẻo lại vướng vào mức lãi suất mà trả mãi không xong, trên thực tế mình đã thấy nhiều vấn đề liên quan.

4.

Thông tin đến bạn!

Lãi suất suất cao nhất mà pháp luật quy định trên tháng là: 5 lần x 1,666%  = 8,33% (mức lãi suất bạn áp dụng cho vay là 4%/tháng).

Như vậy, chỉ khi mức lãi suất cao hơn lãi suất cao nhất pháp luật quy định 5 lần trở lên thì mới cầu thành tội cho vay nặng lãi theo pháp luật hình sự. Hiện lãi suất bạn đang vay chỉ gấp lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định 2,40 lần, cho nên phía cho vay không cấu thành tội cho vay nặng lãi theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bên vay không trả được nợ và phía bên cho vay khởi kiện ra tòa án thì pháp luật chỉ bảo vệ quyền lợi của bên cho vay trong phạm vi lãi suất mà pháp luật cho phép. Phần vượt quá lãi suất sẽ không được pháp luật bảo vệ.

5.

Còn rất nhiều vướng mắc trong việc hiểu thế nào là tiền thu lợi bất chính trong cho vay lãi nặng!

Ví dụ như: Khi đối tượng cho nạn nhân vay 100.000.000 đồng với lãi suất 1%/ngày trong thời hạn 28 ngày (tương đương 360%/năm) nhưng lại trừ tiền “hoa hồng” là 5.000.000 đồng tiền môi giới.

Thì tiền thu lợi bất chính là tiền hoa hồng (5.000.000 đồng) + tiền lời (28.000.000 đồng) hay chỉ tính trên tiền lời (28.000.000 đồng).

Những tình huống này rất khó khăn trong việc xử lý vụ việc để xác định đối tượng cho vay là có tội hay không có tội.

Ngân Hàng Tư Nhân tổng hợp từ Thư Viện Pháp Luật

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *