Không trả lãi ngân hàng vì thất nghiệp mùa Covid-19 | Bank™Tư Nhân

Không trả lãi ngân hàng vì thất nghiệp mùa Covid-19

Giải quyết khó khăn tài chính mùa Covid!

Không trả lãi ngân hàng vì thất nghiệp mùa Covid-19

ngân hàng tư nhân

Phải làm thế nào khi vay ngân hàng và không có khả năng trả nợ?

Luật sư tư vấn về vấn đề vay ngân hàng qua thẻ tín dụng và không có khả năng trả nợ, lãi suất phải trả khi không thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng vay, ngân hàng vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận và phải giải quyết thế nào khi ngân hàng liên tục gọi điện đe dọa. Nội dung tư vấn như sau:

 

Chào luật sư! xin luật sư tư vấn giùm vấn đề này với ạ! Hiện tại tôi có làm thẻ tín dụng ,với mức tín dụng là 18 400 000đ, lãi suất 3.75%. tôi đã rút hết số tiền đó và chi trả khoản tối thiểu hàng tháng 7% trên tổng dư nợ,  trong 4 tháng đầu tôi thực hiện trả nợ tốt, hiện nay do đi làm công tay thất nghiệp và tôi mất khả năng trả nợ. tôi cũng phát hiện ra là họ nâng lãi suất lên 4.08% cách đây 3 tháng mà không cho tôi hay biết.vậy xin hỏi luật sư là nếu tôi không trả số tiền đó phía ngân hàng sẽ giải quyết ra sao và tôi phải chịu hình phạt gì. nếu họ kiện tôi ra tòa tôi có nên tham gia không? trong hợp đồng tôi ký kết không đề cập đến lãi suất mà chỉ là thỏa thuận giữa 2 bên, trong thời gian đó tôi thấy số tiền trong thẻ tín dụng của tôi bị trừ vô tội vạ  với lại  ban đầu họ nói là mỗi tháng sẽ có sao kê lịch sử giao dịch và chi tiêu của tôi nhưng họ đã không làm đúng như trong hợp đồng mỗi tháng chỉ vẻn vẹn có 1 tin nhắn thông báo số tiền tôi cần phải thanh toán.Kính mong luật sư cho lời khuyên và giải pháp cụ thể với ạ hiện tại ho liên tục gọi điện và buông lời hăm dọa nữa ạ, cảm ơn luật sư rất nhiều!

 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn đến công ty Luật Minh Gia, với vụ việc của bạn chúng tôi có quan điểm tư vấn như sau:

 

Thứ nhất, theo như bạn trình bày, bạn có làm thẻ tín dụng ,với mức tín dụng là 18.400.000đ. Như vậy, giữa bạn và ngân hàng đã thiết lập một hợp đồng vay tài sản. Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015:

 

“Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

 

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

 

Theo đó, pháp luật cũng quy định Nghĩa vụ trả nợ của bên vay tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

 

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

 

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

 

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

 

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

 

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

 

Do vậy, khi bạn vay tiền của ngân hàng, bạn có nghĩa vụ phải trả nợ hàng tháng cho bên cho vay (ngân hàng) đầy đủ khi đến hạn. Trường hợp của bạn, trong 4 tháng đầu bạn đều trả lãi đúng hạn. Tuy nhiên, gần đây do thất nghiệp nên bạn mất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng. Khi bạn chậm trả được nợ cho ngân hàng, trách nhiệm dân sự của bạn được Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

 

“Điều 353. Chậm thực hiện nghĩa vụ

 

1. Chậm thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết.

 

2. Bên chậm thực hiện nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền về việc không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn.”

 

“Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền

 

1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

 

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.”

 

Như vậy, khi bạn không có khả năng trả ngay nợ lãi cho ngân hàng thì bạn có thể xin gia hạn thời hạn chậm trả nhưng phải được phía ngân hàng đồng ý. Nếu quá thời hạn gia hạn này mà bạn vẫn không trả được số nợ của mình thì ngoài việc bạn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ bạn còn phải bồi thường thiệt hại cho ngân hàng.

 

Ngân hàng hoàn toàn có quyền khởi kiện bạn ra Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, buộc bạn phải trả toàn bộ số tiền nợ và lãi. Đồng thời, trong trường hợp bạn hoàn toàn không có khả năng thanh toán hết số nợ ngân hàng thì bạn có thể bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự 2008 như sau:

 

“Điều 71. Biện pháp cưỡng chế thi hành án

 

1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.

 

2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

 

3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.

 

4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.

 

5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.

 

6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.”

 

Như vậy, nếu hết thời hạn gia hạn nghĩa vụ trả nợ mà bạn vẫn không thể trả nợ, phía ngân hàng hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp, cưỡng chế thi hành án. Khi đó, mọi tài sản thuộc quyền sở hữu của bạn sẽ có thể bị đem ra xử lý để thanh toán nợ.

 

Thứ hai, theo thông tin bạn cung cấp, bạn và ngân hàng không thỏa thuận rõ lãi suất vay, Bộ luật dân sự 2015 có quy định về lãi suất trong hợp đồng vay như sau:

 

“Điều 468. Lãi suất

 

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

 

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

 

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”

 

Vậy, trường hợp cụ thể của bạn, lãi suất một năm bạn trả cho ngân hàng được tính bằng 10% mức tín dụng là 1.840.000 đồng.

 

Thứ ba, việc ngân hàng không sao kê lịch sử giao dịch và chi tiêu của bạn như trong hợp đồng mà chỉ gửi tin nhắn thông báo số tiền phải thanh toán được xem là vi phạm nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Khoản 1, Điều 351 Bộ luật dân sự 2015:

 

“Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.”.

 

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm nghĩa vụ và cách tính thiệt hại bạn có thể tham khảo tại điều 360 và điều 361 Bộ luật dân sự 2015.

 

Cuối cùng, về hành vi ngân hàng liên tục gọi điện và có lời đe dọa bạn, tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi mà hành động này có thể chỉ được coi là thông báo nghĩa vụ trả nợ tới bạn hoặc hành vi có thể bị xem là “lợi dụng hoạt động viễn thông để đe dọa, quấy rối, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác” bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 1, Điều 40 của Nghị định 83/2011/NĐ-CP.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng.
CV tư vấn: Hà Diệu Nhung – Luật Minh Gia

Nguồn: Luật Minh Gia

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *